Nhận quà hàng tuần

Chẩn đoán X quang Lồng ngực-Phổi

Tia X quang chiếu qua bệnh nhân và hiện trên màn chiếu trong buồng tối hoặc trên vô tuyến truyền hình. Y sinh có thể trực tiếp quan sát được các hoạt động của các cơ quan.

 

1. Các phương pháp Xquang lồng ngực-phổi

1.1. Chiếu Xquang lồng ngực - phổi:

Nguyên lý: Tia X quang chiếu qua bệnh nhân và hiện trên màn chiếu trong buồng tối hoặc trên vô tuyến truyền hình. Y sinh có thể trực tiếp quan sát được các hoạt động của các cơ quan.

Chỉ định : 

- Chiếu kiểm tra tim phổi thường qui hoặc cấp cứu.

- Cần quan sát hoạt động của tim và các mạch máu, di động cơ hoành.

- Định vị các dị vật kim khí ...

 Chụp Xquang quy ước lồng ngực - phổi :

 1.2.1. Chụp X quang lồng ngực chuẩn :

Kỹ thuật :

- Yêu cầu bệnh nhân phải được chụp ở tư thế đứng hoặc nằm kiểu Fowler.

- Hướng tia X chiếu từ sau ra trước (AP).

1.2.2. Chụp X quang lồng ngực điện áp cao:

            - Yêu cầu kỹ thuật chụp phải sử dụng hiệu điện thế cao trên 110KV.

            - Mục đích làm hiện rõ các đường bờ của trung thất

1.2.3. Chụp lồng ngực - phổi tư  thế  nghiêng:

Mục đích:

            -  Định khu tổn thương vào thuỳ và phân thuỳ của phổi: Nếu có tổn thương của lồng ngực hoặc phổi ở bên nào (phải hay trái ) thì có chỉ định chụp nghiêng bên đó.

            - Làm rõ hơn hình thể ổ tổn thương nếu trên phim thẳng còn nghi ngờ.

            - Tim : Chụp nghiêng trái có uống Baryte để đánh giá sự chèn ép của tim vào bờ trước thực quản.

            - Trung thất: Định khu tổn thương vào các vùng của trung thất (trung thất trước, giữa , sau ) nếu nghi ngờ có u trung thất trên phim thẳng.

Thông thường trên phim nghiêng phải hai vòm hoành song song, nghiêng trái hai vòm hoành cắt nhau.

1.2.4 Chụp phế quản cản quang ( Bronchography ): Ngày nay không dùng vì có cắt lớp vi tính thay thế.

1.3. Chụp cắt lớp vi tính : Được chỉ định trong những trường hợp sau:

Nghi ngờ u phổi, u trung thất trên phịm chụp X quang quy ước.

Bệnh giãn phế quản ( Chụp CLVT phổi độ phân giải cao - high resolution CT- được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán giãn phế quản).

Sinh thiết hút bằng kim nhỏ (fine needle biopsy) để xác định nguyên nhân  các nốt mờ ở phổi dưới hướng dẫn của CLVT.

2. Hình ảnh Xquang lồng ngực bình thường

2.1. Xương lồng ngực

Xương ức và xương cột sống ngực thường không thấy được trên phim thẳng, chỉ thấy rõ trên phim chụp nghiêng.

Xương sườn : Cho thấy trên phim chụp thẳng :

- Cung sau: Cản quang rõ.

- Cung trước: Phần sụn không cản quang nên khó xác định được tổn thương

- Các xương  sườn 11,12 chỉ thấy được trên phim chụp tiết niệu .

2.2. Nhu mô phổi:

Hai phế trường có màu đen trên phim chụp (gọi là vùng sáng-radiolucent). Theo bậc thang tỷ trọng Housefield nhu mô phổi có tỷ trọng âm, từ  (–600) đến (-700 HU)

Vân phổi: Là những dải mờ nhỏ, do cản quang của các mạch máu tạo nên, chủ yếu là động mạch phổi chia nhánh khi đi ra ngoại vi phổi tạo nên.

2.3. Rốn phổi :

Hình rễ cây, xuất phát từ hai bên của bờ tim

Tạo nên cản quang rốn phổi chủ yếu là động mạch phổi ngoài ra còn có sự  tham gia của thành phế quản .

Rốn phổi trái thường cao hơn rốn phổi phải 1 cm.

Rốn phổi chia nhánh nhỏ dần ra ngoại vi thành vân phổi. Khi cách thành ngực khoảng 1 cm thì vân phổi không còn thấy rõ.

2.4. Các phần mềm ở lồng ngực:

 Cơ ngực lớn của người già

 Bóng vú của phụ nữ

    Những bộ phận này chồng hình lên vùng nền và ngoại vi hai phế trường, làm giảm độ sáng của phổi trên phim

3. Phân chia phế trường :

 Theo chiều ngang

Vùng đỉnh : Từ cung trước sườn 2 trở lên

Vùng rốn : Từ cung trước sườn 2 đến cung trước sườn 4

Vùng nền : Từ cung trước sườn 4 đến vòm hoành

Theo chiều dọc:      

Vùng trung tâm : Dọc theo điểm giữa xương đòn trở vào

Vùng ngoại vi    : Dọc theo điểm giữa xương đòn trở ra

4. Định khu theo các mốc giải phẫu Xquang:

Vùng trên đòn

Vùng dưới đòn

Góc sườn hoành hai bên

Góc tâm hoành hai bên

Vùng rốn phổi

 

 

Các thuỳ và phân thuỳ phổi:

Được xác định trên bình diện nghiêng

Phân vùng trung thất

Bình diện thẳng: trung thất tạo nên đám mờ nằm giữa hai trường phổi, được giới hạn bởi phế mạc trung thất hai bên

Có 3 tầng ( trên, giữa và dưới):  Được phân định bởi hai đường thẳng ngang (  một là đường đi qua bờ trên quai ĐMC; hai là đường đi qua  ngã ba khí quản )

Bình diện nghiêng được phân chia theo sơ đồ của Felson :

- Trung thất trước : Từ  sau xương ức tới bờ trước khí quản và bờ sau tim

- Trung thất giữa : Tiếp theo tới sau bờ trước đốt sống 1 cm

- Trung thất sau : Tới máng sườn cột sống

 

Hình 3 – Phân vùng trung thất

                              A. Bình diện thẳng :                                                B.  Bình diện nghiêng :

TT- Tầng trên                                         TTT – Trung thất trước

TG- Tầng giữa                                        TTG - Trung thất giữa

 TD- Tầng dưới                                       TTS  - Trung thất sau

 

3. Một số tổn thương cơ bản ở phổi trên phim chụp XQuang.

3.1.  Hình mờ :

Vùng nhu mô phổi tăng tỷ trọng hơn bình thường, gồm :

Mờ thuần nhất :

Mờ toàn bộ một bên phế trường :

- Nguyên nhân :

Xẹp toàn bộ một bên phổi do chèn tắc phế quản gốc (Xẹp chủ động ), Nguyên nhân: Thường gặp trong ung thư phế quản thể trung tâm , dị vật khí quản

Hình ảnh X quang: Trung thất bị kéo về phía phổi xẹp, khe gian sườn hẹp hơn bên lành

Tràn dịch phế mạc toàn bộ một bên

Nguyên nhân:  Có thể là do lao, do ung thư phổi, do chấn thương

Hình ảnh X quang : Khe gian sườn rộng, trung thất bị đẩy về phía phổi lành.

Dày dính toàn bộ phế mạc một bên

Nguyên nhân: Do lao màng phổi cũ, do di chứng của vết thương thấu ngực…

Hình ảnh X quang: gần giống như xẹp phổi nhưng thường có kèm theo dày dính, co kéo rõ hơn, vôi hóa khoang phế mạc

Đám mờ : có thể có các dạng sau:

- Chiếm một thuỳ hoặc phân thuỳ phổi:

Đám mờ thuần nhất dạng tam giác cạnh thẳng, đỉnh quay vào rốn phổi do phế viêm thuỳ.

Đám mờ dạng tam giác cạnh lõm do  xẹp phổi, cnhj lồi do u phổi

Đám mờ ở nền phổi và góc sườn hoành, có giới hạn trên là đường cong

Damoiseau do tràn dịch màng phổi.

Khối mờ  :

U phổỉ:  Từ 3 – 10 cm đường kính, bờ có thể rõ hoặc không rõ.

Khối mờ có bờ kém đều thường gặp trong u ác tính

Khối mờ có bờ nhẵn thường lành tính

ổ áp xe phổi thể u : Là những ổ áp xe không được dẫn lưu mủ ra ngoài

Đốm mờ :

Kích thước từ 1-3cm đường kính

Gặp trong :

Di bào ung thư : các đốm mờ tròn to nhỏ khác nhau ( thả bóng )

Nốt thâm nhiễm lao  : Khu trú ở vùng đỉnh , hạ đòn giới hạn không đều.

U lao: thường đơn độc , có vôi hoá -Xung quanh có thể có xơ hoá , co kéo

3.1.3. Nốt mờ:

Kích thước từ 1 đến 10 mm thường gặp trong:

Lao kê : các nốt mờ có kích thước nhỏ đều nhau tập trung ở 2/3 trên phế trường cả hai bên.

Di bào ung thư thể kê : các nốt mờ to nhỏ không đều như trong lao kê, ưu tiên phát triển từ nền phổi lên và thường cả hai phổi.

Phế quản phế viêm hoặc ứ trệ tuần hoàn phổi trong bệnh tim, các nốt mờ thường tập trung ở sát rốn phổi hoặc lan tràn theo các nhánh phế quản.

Đám mờ không thuần nhất :

Hình tam giác có giới hạn một thuỳ hoặc phân thuỳ phổi trong phế viêm thuỳ lao. Đa số là thuỳ đỉnh bên phải trong phế viêm thượng thuỳ lao bên phải.

Đám mờ không rõ giới hạn : Thường gặp trong lao thâm nhiễm phá huỷ hoặc lao xơ hang.

Dải mờ :

Dải mờ nằm ở vị trí rãnh liên thuỳ lớn hoặc rãnh liên thuỳ nhỏ phổi phải do dày dính hoặc do tràn dịch rãnh liên thuỳ.

Dải mờ tập trung ở  một vùng phổi có thể có hình hang phối hợp, thường gây co kéo tim, trung thất, khe liên sườn, vòm hoành hoặc gặp trong lao xơ hang.

ổ áp xe phổi : Có giới hạn tròn hoặc bầu dục, thường đơn độc trong áp xe phổi lan truyền theo đường trực tiếp hoặc nhiều ổ nhỏ trong trường hợp áp xe phổi gây nên do tụ cầu khuẩn.

Mủ màng phổi: Tạo nên hình ảnh mức dịch mức khí nằm ở ngoại với thành ngực, góc tiếp tuyến giữa ổ bệnh lý với thành ngực một góc tù (dấu hiệu Bernou )

Cần phân biệt hình hang có mức dịch – mức khí trong áp xe phổi với kén khí nhiễm khuẩn ( thành kén khí  thường mỏng ,thành ổ áp xe dày ) .

Tràn dịch tràn khí màng phổi : Hình mức dịch, mức khí nằm ở vị trí khoang màng phổi .

Hình sáng: Là một vùng giảm tỷ trọng ở nhu mô phổi hoặc ở  màng phổi

Hình tràn khí màng phổi  :

Vùng sáng thường ở ngoại vi và trên cao của phế trường, không còn thấy vân phổi, có giới hạn là đường mờ của phế mạc tạng. Trung thất có thể bị đẩy sang bên lành.

Nhu mô phổi bị co rúm về phía rốn phổi ( Xẹp phổi bị động )

Hìnhh sáng dạng hang :

Kén khí :

Thường đơn độc ở một bên phổi, có kích thước từ vài cm đến 10 cm đường  kính, bờ nhẵn, thành mỏng. Đôi khi sự phát hiện là tình cờ trên phim chụp Xquang.

Hang lao :

Thường nằm trên một vùng phổi có các tổn thương lao thâm nhiễm xung quanh. Trong trường hợp này thành hang thường dày, bờ kém rõ. Nếu hang nằm trên một vùng phổi có nhiều dải xơ đó là hang lao cũ. Trong trường hợp này thành hang thường mỏng, bờ nhẵn , cản quang rõ, có hình ảnh co kéo trung thất, khe gian sườn ...

Hình hang xuất hiện trên một khối ung thư phổi:

Là hình hang phá huỷ do hoại tử, thường có thành dày trên 5 mm, bờ hang nham nhở.

Hình sáng không rõ giới hạn :

Xuất hiện ở những bệnh nhân hen phế quản, có bệnh phế quản phổi tắc nghẽn mãn tính…. Đó là hình sáng của khí phế thũng ( Giãn phế nang - Emphysem ).

 

4. Chẩn đoán một số bệnh hay gặp ở phổi và trung thất Lao phổi:

Lao sơ nhiễm (primary tuberculosis) :

Lâm sàng : Là thể lao lần đầu tiên xuất hiện ở phổi. Thường gặp ở trẻ nhỏ. Lâm sàng có hội chứng nhiễm độc lao như gầy xanh, kém ăn, phản ứng Mantoux dương tính.

Hình ảnh Xquang biểu hiện các dấu hiệu của một tổ hợp lao tiên phát (Primary complex ) bao gồm :

+  Nốt sơ nhiễm : Là nốt mờ nhạt ở nhu mô phổi

+  Hạch rốn phổi cùng bên to :

ở giai đoạn mới tổ hợp lao tiên phát thường khó nhận biết . Người ta chỉ có thể dễ  nhận biết trên phim khi nốt sơ nhiễm và hạch có để lại di chứng vôi hóa.

Lao hạch khí phế quản :

Thường tiến triển từ lao sơ nhiễm ( lao hậu sơ nhiễm ) Hình ảnh X quang cho  thấy hạch rốn phổi và cạnh khí quản sưng to, thường ở một bên tương ứng bên phổi bị lao sơ nhiễm.

Lao thâm nhiễm phá huỷ :

Xuất hiện một vài nốt mờ vùng đỉnh, hạ đòn thường kèm theo hình hang phá huỷ. ở giai đoạn này hang thường có thành dày, bờ hang kém rõ.

Lao kê :

Gồm nhiều nốt mờ nhỏ xuất hiện ở cả hai bên phổi. Những nốt mờ này thường đều nhau có kích thước vài mm, qui tụ nhiều ở 2/3 trên của phổi.

Lao tản mạn đường máu :

Tạo nên những nốt mờ to nhỏ khác nhau từ 5 đến 10 mm đường kính, lan toả cả hai bên phổi.

Phế viêm thượng thuỳ lao :

Tổn thương lao chiếm cả một thuỳ phổi, đa số là thuỳ trên của phổi, làm mờ không thuần nhất  một thuỳ  phổi.

Lao phế mạc:

Thường có biểu hiện tràn dịch màng phổi

Lao xơ hang :

Là tổn thương lao ở giai đoạn mãn tính. Hình ảnh Xquang gồm hình ảnh các dải xơ gây co kéo các tạng như tim, trung thất, vòm hoành, khe gian sườn, thường kèm theo dày dính phế mạc. Đặc biệt hang nằm trên một vùng xơ hóa xen lẫn có nhiều nốt mờ đậm của vôi hóa.

U phổi

Đặc điểm :

Đa số các u phổi là u ác tính và xuất phát từ niêm mạc phế quản nên còn gọi là ung thư phế quản ( Bronchial Carcinoma ) . U lành tính rất hiếm, thường là u sụn phế quản ( Hamartome ) .

Hình ảnh X quang :

Thường là khối mờ tròn, giơí hạn có khi rất rõ, có khi không rõ, cản quang thuần nhất và có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào của phổi.

Để xác định tính chất lành hay ác tính của u phổi cần chụp phế quản cản quang hoặc chụp cắt lớp vị tính: U ác tính của phổi thường gây chèn tắc, cắt cụt phế quản còn u lành tính gây chèn đẩy phế quản vùng tương ứng.

Ung thư phế quản trung tâm: Tạo nên hình mờ nằm sát rốn phổi. Vì u xuất phát từ các phế quản gốc nên có thể gây xẹp phổi ở thuỳ hoặc phân thuỳ tương ứng (Xẹp phổi chủ động)

Ung thư phế quản ngoại vi: Tạo hình mờ ở xa rốn phổi vì u xuất phát từ phế quản ngoại vi. Một thể đặc biệt của ung thư phổi ngoại vi là u Pancoast- Tobias . U nằm ở đỉnh phổi thường làm  tiêu xương sườn 1, 2 và hội chứng chèn ép kiểu Claude- Bernad- Horner.

Di bào ung thư vào phổi: Có hai dạng

Di bào thể bóng bay : Tạo nên những đốm mờ tròn, bờ nhẵn, đường kính từ 1 đến vài centimet rải rác ở cả hai phế trường  ( Chú ý phân biệt với núm vú )

Di bào ung thư thể kê : Tạo nên những nốt mờ nhỏ đường kính vài millimet , rải rác ở hai phế trường  ( Chú ý phân biệt với những nốt mờ do  lao kê )

U trung thất :

Làm cho bóng trung thất rộng ra một bên hoặc cả hai bên. Các loại u trung thất thường gặp như :

U tuyến giáp nằm ở trung thất :

Thường tạo khối mờ ở tầng trên trung thất giữa, sát với nền cổ. Khối mờ có giới hạn dưới tròn hoặc bầu dục, lấn sang bờ phải hoặc bờ trái trung thất.

U tuyến ức :

 Khối mờ thuần nhất nằm ở tầng trên hoặc tầng giữa trung thất trước thường phát triển về một bên bờ trung thất. Lâm sàng chỉ có 1/3 số trường hợp có kèm theo nhược cơ.

U thần kinh :

Tạo khối mờ tròn bờ nhẵn, nằm ở trung thất sau chồng lên cột sống trên phim chụp nghiêng và lấn sang bờ phải hoặc bờ trái sát cột sống trên phim chụp thẳng.

Các u quái ( Teratoma):

Có thể nằm ở bất cứ vị trí nào của trung thất. Có thể thấy trong u các hình cản quang đậm của xương, răng.

Kén dạng bì :

Hình mờ cản quang thuần nhất, bờ tròn nằm ở trung thất trước hoặc giữa.

Tuyến ức bình thường ở trẻ em:

ở điều kiện sinh lý bình thường trẻ em dưới 2 tuổi bóng trung thất thường rất rộng trên phim chụp lồng ngực thẳng. Bóng trung thất có thể bè to cả hai bờ phải và trái hoặc bè ra một bên.

Ngoài những loại u hay gặp ở trung thất trên đây còn có một số loại u ít gặp  hơn như: u mỡ(Lipome) 

Cần chẩn đoán phân biệt các khối u ở trung thất với khối phồng quai động mạch chủ, hình mờ ở trung thất do giãn động mạch phổi. Cần chiếu Xquang (thấy mạch đập), hoặc chụp động mạch để xác minh thêm. Nếu cần chụp thêm phim CLVT để xác định chẩn đoán.

  • 852,000 Giảm 20%đ

    Gói khám sức khỏe phụ nữ

    Tự bảo vệ mình: Gói khám giúp chị em phát hiện sớm những bệnh phụ khoa và các vấn đề sức khoẻ còn tiềm ẩn theo lứa tuổi

    • Khám sản phụ khoa
    • Soi tươi nhuộm dịch âm đạo
    • Pap’smear: Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung
    • Siêu âm tử cung phần phụ
    • Siêu âm vú
    • Xét nghiệm máu: đánh giá các bệnh lý về máu, đường máu, canxi trong máu…
    • Tổng phân tích nước tiểu

  • (Nam)1,960,000 đ-(Nữ)1,940,000đ

    Gói khám tiền hôn nhân

    Cùng đi khám, để yêu, để tin và có trách nhiệm nhiều hơn với cuộc hôn nhân bền vững

    • Đánh giá tổng quan về sức khỏe
    • Khám Nam khoa
    • Tư vấn sức khỏe sinh sản
    • Điện tim
    • Siêu âm ổ bụng tổng quát
    • Chụp X-Quang tim phổi thẳng
    • Xét nghiệm máu: đánh giá các bệnh lý về máu, đường máu, mỡ máu, viêm gan B, C, HIV, nội tiết tố…
    • Tổng phân tích nước tiểu

  • Liên hệ đ

    Gói khám sức khỏe định kỳ

    Gói khám sẽ cung cấp cho bạn bức tranh chung về tình trạng sức khoẻ của mình, giúp cho việc phát hiện sớm những dấu hiệu của bệnh lý để kịp thời phòng ngừa và điều trị

    • Đánh giá tổng quan về sức khỏe
    • Siêu âm ổ bụng tổng quát
    • Khám sản phụ khoa
    • Điện tim, X-Quang
    • Xét nghiệm máu: đánh giá các bệnh lý về máu, đường máu, mỡ máu, Gout, chức năng gan, thận…
    • Chụp X-Quang tim phổi thẳng
    • Tổng phân tích nước tiểu

  • 1,550,000 đ

    Gói khám người cao tuổi

    Các chuyên gia y tế khuyến cáo người từ 50 tuổi trở lên nên đi khám sức khỏe định kỳ ít nhất 6 tháng/lần, để phát hiện sớm các bệnh tiềm ẩn

    • Đánh giá tổng quan về sức khỏe
    • Nội soi Tai-Mũi-Họng
    • Siêu âm ổ bụng tổng quát
    • Điện tim
    • Chụp X-Quang tim phổi thẳng
    • Xét nghiệm máu: đánh giá các bệnh lý về máu, đường máu, mỡ máu, chức năng gan, thận, canxi trong máu…
    • Tổng phân tích nước tiểu

  • 1,570,000 đ

    Gói khám Nam khoa

    Giải pháp thực sự cho Phái mạnh – giúp bạn nhanh chóng kiểm tra thể trạng thực sự của mình, mà còn phát hiện nhanh những bệnh lý của Nam giới

    • Khám Nam khoa
    • Tinh dịch đồ
    • Soi tươi nhuộm dịch niệu đạo
    • Xét nghiệm máu: đánh giá các bệnh lý về máu, đường máu, mỡ máu, Gout, chức năng gan, thận…
    • PSA Phát hiện sớm ung thư tiền liệt tuyến
    • Chụp X-Quang tim phổi thẳng
    • Tổng phân tích nước tiểu

Tìm chúng tôi trên facebook

Đăng lên Google